Ô cửa mùa xuân

Hà Tĩnh | 1 tháng trước

Tôi mở cửa, vứt cái ba lô to kềnh xuống sàn nhà rồi nằm vật ra giường. Tưởng sẽ ngủ được một giấc sau chuyến đi mệt nhoài nhưng rồi lại không thể chợp mắt nổi. Lại nhớ cái tin nhắn vừa đến lúc nửa đêm của Nguyên: 'Cuộc sống của Thành giờ chỉ tính bằng ngày mày biết không?' làm tôi sững sờ.

Mùa xuân trên rẻo cao. Ảnh Sách Nguyễn

Biết làm sao được, ba năm ở trong chốn bản làng này là ba năm tôi rũ bỏ tất cả những gì thuộc về mình trước đó. Tôi chạy trốn ngay cả với bản thân mình bằng cách cắm cúi vào đọc và viết. Tôi hạn chế cả dùng điện thoại nên mỗi lần mở mạng kết nối, tin tức cứ kêu lên những hồi báo dài không dứt. Một trong những tin nhắn chậm chạp đến tôi đó là của Nguyên.

Nguyên đã gửi tin nhắn này từ mấy tuần trước làm tôi chới với. Lúc này đêm đã khuya. Tôi nhìn ra ngoài trời đẫm trăng rùng mình. Sương dưới bờ vực đã đùn lên ngùn ngụt che chắn hết mọi lối không còn nhìn thấy mặt người nữa. Tôi bất lực bó gối ngồi chờ trời sáng. Hóa ra, trong lòng tôi lại đang dối mình, những phai nhạt về anh nó chỉ thực sự nhạt phai khi cả hai chúng tôi đều có cuộc sống tốt đẹp. Đằng này…

Tôi chỉ kịp rửa mặt qua quýt rồi chạy ngay đến nhà anh. Căn phòng nhỏ nằm tít trên tầng bốn của một căn hộ cũ có cầu thang sắt đi phía ngoài. Cầu thang đó, tôi quen từng vết rỉ sét của nó. Những thanh sắt uốn mỏng gần như chực bật ra khỏi lớp vôi vữa đã bong từng mảng. Phòng vắng, lạnh ngắt. Căn phòng không có gì ngoài tranh và giá vẽ. Những típ màu, peso, khung tranh vứt rải rác khắp nền nhà. Hình như đã bao lâu rồi anh không cầm đến cọ vẽ. Mọi thứ đều phủ một lớp bụi mờ.

Minh họa Internet

Thành là một họa sĩ. Cũng không hẳn, trước đây anh đã từng là một thạc sĩ chuyên ngành triết học ở Đức, xuất thân từ một gia đình danh giá có bố là một nhà ngoại giao làm việc tại Đại sứ quán Đức. Không hiểu sao một ngày anh về nước. Trong valy không có gì ngoài toan và bút vẽ. Anh bảo: “Cái thú vị nhất trong cuộc đời anh là ông trời đã cho anh gặp tôi”.

Tôi đã sống với những tháng ngày đẹp đẽ và thi vị như thế cho đến một ngày tôi nhận được một bức thư của một người phụ nữ xa lạ (người đó tự xưng là vợ anh) người đã nói rành mạch những gì thân thuộc về anh mà tôi không cần kiểm chứng nữa. Và tôi lặng lẽ rời xa anh theo cách của mình. Bởi lúc đó, tôi nghĩ, nếu nói ra cả hai chúng tôi sẽ đều cùng khó xử. Cái kì lạ là Thành không hề đuổi theo tôi, cũng không hề giải thích lấy một lời. Sự tự ái trong lòng tôi khiến tôi căm hận cả cái không khí ồn ã tôi đang hít thở hàng ngày.

Tôi đã ra đi như thế. Bỏ lại sau lưng cả thành phố rực rỡ ánh đèn và những buổi chiều mù mịt khói vì tắc đường, tôi về với bản làng xa tít tận chân trời. Ước muốn về bản đã bao lần vì Thành mà không thực hiện được giờ lại vì anh mà trở thành động lực cho chuyến đi dài ngày này của tôi. Từ dạo đó chúng tôi không gọi điện cho nhau. Trang face tôi cũng chặn luôn nên mọi thứ về anh tôi chỉ nghe qua bạn bè. Một mối tình bắt đầu đẹp đẽ đến nhường nào thì kết thúc nỗi đau khổ cũng lớn lao đến nhường ấy.

Tôi đăng kí đi dạy học ở miền núi…

“Tôi đăng ký dạy học ở miền núi” - Ảnh Sách Nguyễn

Chiếc xe khách lên Kỳ Sơn thả tôi ngay ở một ngã rẽ. Gã tài xế vừa kéo chiếc vali to kềnh xuống xe ngại ngùng:

“Cô giáo vào bản tầm này nếu không có người đón thì ngủ lại đây đã để mai hẵng đi, đường vào bản giờ không quen khó đi lắm!” “Bao xa anh?” “20km thôi nhưng đoạn đường này thì không đo ki-lô-met bằng thời gian được” - Gã tài xế chỉ nói được thế trước khi khuất sau đám bụi đỏ mịt mù. Cô giáo! Không chê anh nghèo thì lên xe anh đèo?

Chử đón tôi bằng chiếc xe máy cà tàng quết đầy bùn đất của anh. Tôi ái ngại nhìn chiếc xe được quấn xích xung quanh lốp như bánh xe tăng chần chừ ngồi lên. Biết làm sao được, khi đã lên được đến đây rồi thì chỉ có thể tiến chứ không thể nào lùi.

Chiếc xe như con ngựa nhảy cà tưng hết đoạn đường bê tông đến đoạn đường đất lầy mới phát huy hết giá trị của nó. Vượt qua con dốc chỉ khoảng 200m thôi đã làm tôi sởn người. Những “cỗ chiến xa” tự chế của của người dân nơi đây phải về số một, rú ga hết cỡ, lốp xe cày bắn tung đất lên như một cỗ máy xới đất mới lên được dốc đất này.

Đêm đó, tôi bó gối ngồi thức cho đến sáng rồi thiếp đi một lúc, cho đến khi giật mình thức giấc mới biết trời đã sáng. Nghe tiếng lục cục ngoài cửa phòng, tôi mở cửa, đám học trò đang co ro nhìn tôi cười. Chúng đón chào tôi bằng tiếng nói rộn ràng chìm trong sương trắng. Lời Nguyên dặn trước khi vào bản “mua cho trẻ con ít kẹo” trở thành phép màu. Cuộc làm quen trở nên dễ dàng và thật ngọt ngào.

Chỉ có Thi - Em không lại cùng đám bạn đó mà vẫn ngồi dưới bậc cầu thang lặng lẽ. Đôi mắt mở to và buồn đang nhìn vào khoảng không vô định nào đó, bàn tay nhỏ bé dấu sau gấu áo khiến tôi chần chừ lại gần. Chử đứng sau lưng tôi khẽ nói: “Nó bị mù”.

Đó là lời đầu tiên tôi biết về Thi.

Cho đến khi cầm tay Thi chỉ từng cho nó nét chữ brai đầu tiên trong đời, tôi mới thấy giá trị của sự thay đổi này. Nhìn ngón tay non nớt run rẩy của Thi khi chạm vào phím chữ, bao cảm xúc của tôi như vỡ òa. Tôi nhìn Thi, khoảng trống sâu thẳm đó làm cho tôi thấy nhói buốt. Thi khao khát nhìn thấy màu sắc cuộc sống, còn tôi lại chạy trốn.

Tôi bảo Chử để Thi ở lại cùng tôi trong khu tập thể. Thi thoảng, ngày nghỉ cuối tuần tôi chở Thivề nhà. Phải băng qua gần một con núi quanh co dưới những rặng mận già với những chùm địa y mốc meo từ gốc lên đến ngọn mới đến được nhà Thi. Những gốc mận đó đã vài chục tuổi. Nhà em cũng như những nếp nhà người Mông khác nằm san sát nhau được lợp bằng gỗ samu. Cuộc sống ở đây đơn thuần như cách người ta dựng nhà. Giống nhau đến kỳ lạ. Nhưng đó lại chính là cách để giúp đỡ nhau của những người trong cùng dòng họ mỗi khi có kẻ thù hay thú dữ đến phá hoại.

Đêm đọc tin nhắn của Nguyên tôi đã khóc. Tôi đã có ba năm tươi đẹp để yêu Thành thì cũng mất từng đó thời gian để quên đi tình yêu đó. Vậy mà, khi con số đó gần chạm đến đích, Thành lại buộc tôi trở về với trạng thái ban đầu, như mới hôm qua thôi chúng tôi vừa cãi nhau.

Thi hình như đã cảm nhận được điều gì đó từ tôi nhưng không thể nói ra. Tôi bảo tôi phải về phố một ít hôm. Thi lặng đi một lúc rồi mỉm cười nhẹ nhõm.

Tôi dừng xe trước cổng nhà trồng đầy những đám cây từ bi lá lấp lánh nhìn Thi đang đi về phía cửa. Chử vẫn không nhìn tôi. Thường thì anh đã chuẩn bị một ít gạo sẵn cho cô trò tôi từ trước trong cái túi để trước thềm nhà. Chỉ Thi lặng lẽ mân mê bàn chân đứa em còn ẵm ngửa trên tay mẹ một lúc rồi lại đi ra cửa. Em lại ngồi nơi bậc cầu thang bần thần. Rồi như để xua tan sự ủi mị trong tôi Thi hít sâu vào lồng ngực rồi cười:

Cô giáo! Cô có ngửi thấy mùi thơm hoa mận?

Tôi nhìn lên mái nhà lợp bằng gỗ samu đã cũ. Cây mận cao vút trên cao đã bắt đầu lác đác bông trắng lấp lánh trong nắng sớm.

Thơm quá… Đến bữa cô lên là rộ mùa đẹp nhất, lúc đó mình còn nghe cả mùi mật ngọt ngào.

Tôi nắm tay Thi rồi ra cửa. Chử đã chờ xe sẵn nhưng vẫn không nói với tôi một lời nào. Tôimường tượng được nỗi lo lắng của anh. Mãi rồi, anh cũng thốt lên:

Lần này cô về luôn đúng không? Chỉ ít ngày! Ít ngày là bao giờ? Một tuần! Một tuần – Chử kéo dài giọng - Đáng ra tôi không nên để nó đến ở cùng cô. Cái đứa trẻ tội nghiệp đó ông trời đã bắt tội đời nó phải ngồi nơi xó cửa rồi thì vĩnh viễn phải ngồi nơi xó cửa. Anh…anh đừng nói thế- Tôi hốt hoảng nói - Tôi hứa với anh là tôi sẽ trở lại.

Mùa xuân trên những mái nhà samu. Ảnh Sách Nguyễn

Tôi lấy hết can đảm cầm lấy tay Chử, nhìn sâu vào đôi mắt đã đầy những vết chân chim khắc khổ lẫn buồn bực trên khuôn mặt anh, cố để anh tin. Nhưng trong mắt anh vẫn chứa đầy tuyệt vọng. Trước đây, Chử được đi học để về xây dựng quê hương, anh tiên phong xóa bỏ những hủ tục lạc hậu nhưng rồi không thể. Việc cả họ tộc yêu cầu vứt bỏ đứa con gái bị mù của vợ chồng anh như một bát nước hất vào ngọn lửa đổi mới đang hừng hực trong anh. Người ta không tin anh, người ta tin thầy cúng. Thầy bảo nó là sao chổi, bất kể ai ở gần nó đều có thể bị nguy hiểm. Chử đã kiên quyết không từ bỏ con. Anh lặng lẽ dựng một cái lán ở ngoài rìa bản, nuôi Thi cho đến hôm nay.

Chử lo sợ tôi không trở lại. Nỗi lo lắng ấy khiến anh tuyệt vọng…

*

Thành không có ở nhà. Tôi nhắn tin hẹn gặp anh nơi quán cũ và ngồi sẵn ở đó. Lần này anh không tránh mặt tôi. Khi anh chọn cách đối mặt thì tôi lại bối rối không yên. Từ khi nghe tin anh từ Nguyên, tôi như có bão lòng. Tại sao tôi có thể hồ đồ tin vào trò lừa bịp của anh. Anh chọn lý do đã có gia đình để lìa xa tôi. Điều đó hạ gục tôi một cách nhanh chóng. Và, bây giờ khi sắp đối mặt với anh, tôi lại phải diễn nốt cùng anh vở kịch này cho đến phút chót.

Thành đứng ở cửa, vẫn cái dáng người kênh kiệu và bất cần. Anh cởi chiếc áo măng tô san dài bặn vào thành ghế, gỡ cái khăn len quấn quanh cổ anh rồi vội vàng quấn quanh cổ tôi như hồi yêu nhau:

Em không giữ ấm cổ gì cả. Em không lạnh!

Tôi bắt đầu run lên, hơi ấm của anh từ chiếc khăn vấn vít lấy cổ tôi làm tim tôi run lên. Thành gọi một ly capuchino nóng cho tôi và anh một ly đen không đường như ngày xưa rồi nháy mắt cười.

À, em có còn thích hương vị của nó? Em sao cũng được! Em vẫn nhạt nhẽo thế! Ừ! Thế anh mới bỏ em mà, đúng không?

Thành cười không trả lời câu hỏi của tôi dẫu tôi biết anh đang cố để làm ra một cuộc nói chuyện tự nhiên nhất có thể. Vở kịch này thực ra đã hạ màn từ lâu rồi vậy mà không hiểu sao cả hai chúng tôi vẫn muốn tiếp tục với nó. Tôi vì Thành mà dối mình, cốt để anh tin cuộc sống của tôi đang đẹp đẽ từ ngày không có anh. Thành cũng vì tôi mà giấu đi những cơn đau đang gặm nhấm cơ thể mình từng tí một. Đến một lúc nào đó, cả hai chúng tôi sẽ phải dừng lại. Một trong hai người sẽ phải dừng lại nhưng như thế cả tôi và Thành sẽ đau khổ đến chết mất.

Tối nay em ở lại nhé?- Thành đề nghị

Tôi lặng lẽ gật đầu. Đêm đó, như lần đầu hẹn hò cùng nhau, chúng tôi cùng ăn cơm, cùng đi xem phim rồi cùng về lại căn gác trọ đầy khung tranh và toan vẽ, cùng thu chân vào chăn và tựa đầu vào vai nhau cho đến sáng.

Thành đã ra đi như thế, nhẹ nhõm trên vai tôi như một lời từ biệt cuối cùng.

*

Tôi về lại bản, Chử đón tôi từ đầu đường, hớt hải nói:

Bệnh viện người ta gọi đã có người hiến giác mạc cho con bé…mong cô giúp tôi.

Chử nói rồi vội vàng dúi bức thư vào tay tôi. Là nét chữ của Thành. Tôi òa khóc. Bức thư nói về nguyện vọng cuối cùng của anh. Anh muốn hiến giác mạc cho Thi, anh muốn được ở bên tôi, muốn cuộc sống của anh thêm phần ý nghĩa khi được cùng tôi thắp lên tia hi vọng cho cuộc đời của đứa trẻ đầy bất hạnh.

***

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được ánh mắt đầu tiên của con bé Thi nhìn tôi, nhà báo ạ! - Cô giáo già rưng rưng nước mắt nhìn tôi bùi ngùi - nó thiết tha và trìu mến đến nỗi tôi không rời nơi đây mà đi cho được. Đó là ô cửa mùa xuân tươi xanh mãi mãi!

Tôi gập cuốn sổ tay đã chi chít những chữ lại rồi ngồi lặng im bên chị. Ý định đầu tiên khi đến đây là định viết về chị như một tấm gương nhà giáo bằng lòng yêu nghề, mến trẻ, say mê với công việc đã bám bản gieo chữ tại bản làng heo hút khó khăn này vậy là không thành bởi những yêu thương của chị dành cho mảnh đất này còn nhiều hơn những điều tôi muốn viết.

(Câu chuyện tôi viết ra trên đây là một câu chuyện có thật. Cô bé Thi ngày xưa nay đã trở thành cô giáo ở chính bản làng của mình. Còn người phụ nữ ấy đến nay vẫn một mình bởi chị nói tình yêu đó với chị đã là mãi mãi…)

Trần Quỳnh Nga

Nguồn Hà Tĩnh: http://baohatinh.vn/van-hoc/o-cua-mua-xuan/205694.htm

Bình luận / 0